• MAGNOLIA LAW
  • Tầng Trệt, Tòa nhà TP HOMES, Số 9 Võ Thị Sáu, Phường Tân Định, Tp.Hồ Chí Minh
  • 0933500006
  • Thứ 2 - thứ 7 | 8:00am- 18:00pm
  • PHÂN TÍCH TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 THÔNG QUA MỘT VỤ VIỆC THỰC TẾ

    I. LỜI MỞ ĐẦU

    Trong đời sống xã hội hiện nay, các giao dịch dân sự giữa cá nhân với cá nhân ngày càng diễn ra phổ biến và đa dạng. Trong đó, hợp đồng dịch vụ là một trong những loại hợp đồng được sử dụng thường xuyên nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao dịch. Việc giao kết hợp đồng không chỉ thể hiện sự tự nguyện, thiện chí của các bên mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi xảy ra tranh chấp.

    Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại nhiều trường hợp sau khi ký kết hợp đồng và nhận tiền từ bên còn lại thì một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, cố tình kéo dài thời gian thực hiện hoặc không hoàn trả tài sản đã nhận. Những hành vi này không chỉ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên bị vi phạm mà còn gây mất ổn định trong các quan hệ dân sự và làm phát sinh tranh chấp kéo dài.

    Xuất phát từ thực tiễn trên, bài nghiên cứu này tiến hành phân tích trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dịch vụ theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thông qua vụ việc tranh chấp giữa ông Đinh Nam Định và bà Đinh Thị Bích Thủy. Qua đó làm rõ cơ sở pháp lý, trách nhiệm của bên vi phạm hợp đồng, đồng thời đánh giá vai trò của pháp luật dân sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    II. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

    Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Đối với hợp đồng dịch vụ, một bên có nghĩa vụ thực hiện công việc cho bên còn lại và được nhận thù lao hoặc chi phí theo thỏa thuận.

    Hợp đồng dịch vụ được xác lập dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và trung thực. Khi hợp đồng đã được ký kết hợp pháp thì các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng và đầy đủ những nội dung đã cam kết. Trường hợp một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

    Ngoài ra, pháp luật dân sự còn cho phép các bên tự do thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại nhằm bảo đảm tính ràng buộc và trách nhiệm trong quá trình thực hiện giao dịch dân sự.

    III. NỘI DUNG VỤ VIỆC THỰC TẾ

    Ngày 23/04/2021, ông Đinh Nam Định và bà Đinh Thị Bích Thủy đã ký kết hợp đồng dịch vụ liên quan đến việc thực hiện thủ tục xin cấp “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất” đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại mặt tiền Quốc lộ 22, thuộc ấp Đông Lâm, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP.HCM.

    Theo nội dung hợp đồng và phụ lục hợp đồng mà hai bên đã ký kết, ông Đinh Nam Định có trách nhiệm giao tiền để bà Đinh Thị Bích Thủy thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất. Sau khi ký kết hợp đồng, ông Đinh Nam Định đã giao cho bà Đinh Thị Bích Thủy số tiền 600.000.000 đồng (ghi bằng chữ: sáu trăm triệu đồng).

    Trong phụ lục hợp đồng, tại Điều 3 về điều khoản thi hành, hai bên đã thỏa thuận rõ: nếu bà Đinh Thị Bích Thủy không thực hiện đúng nghĩa vụ theo thời hạn đã cam kết thì phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận và chịu thêm khoản phạt vi phạm bằng 20% trên tổng số tiền đã nhận.

    Tuy nhiên, sau khi nhận số tiền nêu trên, bà Đinh Thị Bích Thủy không thực hiện đúng theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng, đồng thời không hoàn trả lại số tiền đã nhận cho ông Đinh Nam Định mặc dù thời hạn thực hiện hợp đồng đã hết. Sự việc kéo dài từ năm 2021 cho đến nay gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đinh Nam Định.

    IV. CƠ SỞ PHÁP LÝ ÁP DỤNG ĐỐI VỚI VỤ VIỆC

    1. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

    Căn cứ Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

    “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.”

    Theo quy định trên, khi một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm dân sự phát sinh từ hành vi vi phạm đó. Trong vụ việc này, bà Đinh Thị Bích Thủy đã không thực hiện đúng nội dung hợp đồng và không hoàn trả lại số tiền đã nhận nên phải chịu trách nhiệm dân sự đối với ông Đinh Nam Định.

    1. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền

    Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

    “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.”

    Theo đó, kể từ thời điểm hết hạn thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn không hoàn trả số tiền 600.000.000 đồng thì bà Đinh Thị Bích Thủy còn phải chịu trách nhiệm đối với khoản tiền chậm trả theo quy định pháp luật.

    1. Quy định về phạt vi phạm hợp đồng

    Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

    “Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.”

    Trong vụ việc này, điều khoản phạt vi phạm 20% trên tổng số tiền đã nhận được ghi nhận rõ trong phụ lục hợp đồng do hai bên tự nguyện ký kết. Vì vậy, điều khoản này có giá trị pháp lý ràng buộc và là căn cứ để yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận.

    V. PHÂN TÍCH HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG

    Qua nội dung vụ việc có thể xác định rằng hợp đồng dịch vụ giữa ông Đinh Nam Định và bà Đinh Thị Bích Thủy được xác lập hợp pháp vì:

    • Hai bên tham gia giao kết trên cơ sở tự nguyện;
    • Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;
    • Nội dung hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội;
    • Điều khoản phạt vi phạm được ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng.

    Sau khi nhận số tiền 600.000.000 đồng từ ông Đinh Nam Định, bà Đinh Thị Bích Thủy không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết, không hoàn trả lại số tiền đã nhận và kéo dài thời gian giải quyết trong nhiều năm. Hành vi này đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ dân sự được xác lập trong hợp đồng.

    Theo nội dung thỏa thuận giữa hai bên, số tiền bà Đinh Thị Bích Thủy phải thanh toán bao gồm:

    • Tiền gốc đã nhận: 600.000.000 đồng;
    • Tiền phạt vi phạm hợp đồng 20%: 120.000.000 đồng.

    Tổng cộng số tiền phải thanh toán là 720.000.000 đồng (ghi bằng chữ: bảy trăm hai mươi triệu đồng).

    Ngoài ra, tùy theo yêu cầu của bên khởi kiện và căn cứ vào thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ, bên vi phạm còn có thể phải thanh toán thêm khoản lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    VI. Ý NGHĨA PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN CỦA VỤ VIỆC

    Vụ việc tranh chấp giữa ông Đinh Nam Định và bà Đinh Thị Bích Thủy cho thấy tầm quan trọng của hợp đồng trong các giao dịch dân sự hiện nay. Việc ghi nhận rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường và điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền lợi của các bên khi phát sinh tranh chấp.

    Bên cạnh đó, vụ việc cũng cho thấy pháp luật dân sự Việt Nam đã có những quy định tương đối đầy đủ nhằm xử lý hành vi vi phạm hợp đồng, bảo đảm tính công bằng và ổn định trong các quan hệ dân sự.

    Thông qua việc áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, bên bị vi phạm có cơ sở pháp lý để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ tài sản theo đúng cam kết đã thỏa thuận.

    VII. KẾT LUẬN

    Qua quá trình nghiên cứu và phân tích vụ việc thực tế giữa ông Đinh Nam Định và bà Đinh Thị Bích Thủy có thể khẳng định rằng việc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng là trách nhiệm bắt buộc của các bên trong quan hệ dân sự.

    Khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết thì phải chịu trách nhiệm dân sự, bao gồm trách nhiệm hoàn trả tài sản, phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính phát sinh khác theo quy định của pháp luật.

    Bộ luật Dân sự năm 2015 đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời góp phần xây dựng môi trường giao dịch dân sự minh bạch, công bằng và ổn định trong xã hội hiện nay.

    Tin liên quan

    9 July

    NGHIÊN CỨU NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH 254/2026/NĐ-CP VỀ HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ, CHỨNG TỪ ĐIỆN TỬ – SO SÁNH VỚI NGHỊ ĐỊNH 123/2020/NĐ-CP VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN

    29 June

    PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2026 VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỰC TIỄN

    29 June

    PHÂN TÍCH DỰ THẢO LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ (SỬA ĐỔI) – NHỮNG ĐIỂM MỚI, SỰ THAY ĐỔI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

    22 June

    CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ QUẢN TRỊ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG KHU VỰC CÔNG VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU LIÊN NGÀNH TỪ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 2026 VÀ BỘ TIÊU CHÍ AI CÔNG VỤ

    22 June

    CẢI CÁCH HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM THÔNG QUA CÁC ĐẠO LUẬT CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 01/7/2026: TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

    15 June

    CÁC KHOẢN CHI ĐƯỢC SỬ DỤNG TỪ KINH PHÍ CÔNG ĐOÀN TRONG DOANH NGHIỆP NĂM 2026

    8 June

    PHÂN TÍCH CHUYÊN SÂU CHÍNH SÁCH MIỄN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI KHOẢN TIỀN ĂN CA, ĂN TRƯA THEO ĐỊNH HƯỚNG SỬA ĐỔI NĂM 2026 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG PHÁP LÝ TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM

    1 June

    CẬP NHẬT MỨC ĐÓNG ĐOÀN PHÍ VÀ KINH PHÍ CÔNG ĐOÀN NĂM 2026 – NHỮNG ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG, DOANH NGHIỆP

    1 June

    PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH MỚI VỀ XỬ PHẠT HÀNH VI XUẤT HÓA ĐƠN SAI THỜI ĐIỂM TỪ NĂM 2026

    26 May

    TỪ NGÀY 01/7/2026: THỜI HẠN KHAI BỔ SUNG HỒ SƠ KHAI THUẾ GIẢM CÒN 5 NĂM

    26 May

    NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH MỨC LƯƠNG CƠ SỞ THEO NGHỊ ĐỊNH 161/2026/NĐ-CP

    26 May

    PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG CÁC LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2026 VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

    20 May

    CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ SỐ

    20 May

    PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG HỢP ĐỒNG ĐÃ ĐƯỢC CÔNG CHỨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

    20 May

    Tổng hợp Luật Đất đai của Việt Nam từ 2020 đến nay?

    11 May

    Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 5/2026

    21 April

    Dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế thu nhập cá nhân, Thuế thu nhập doanh nghiệp và Thuế giá trị gia tăng năm 2026 được xây dựng nhằm hoàn thiện hệ thống thuế theo hướng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn kinh tế. Nội dung trọng tâm của dự thảo là điều chỉnh cách xác định ngưỡng doanh thu chịu thuế. Theo đó, dự thảo bãi bỏ mức doanh thu cố định (như 500 triệu đồng/năm trước đây) và thay bằng quy định “mức do Chính phủ quy định”. Quy định này áp dụng thống nhất cho cả thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và một phần thuế thu nhập doanh nghiệp, nhằm giúp Nhà nước dễ dàng điều chỉnh theo tình hình kinh tế. Đối với thuế thu nhập cá nhân, cá nhân kinh doanh có doanh thu dưới ngưỡng sẽ được miễn thuế; đồng thời có thể áp dụng cơ chế tính thuế đối với phần thu nhập vượt ngưỡng. Đối với thuế giá trị gia tăng, hàng hóa và dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh nhỏ cũng không thuộc diện chịu thuế nếu dưới ngưỡng quy định

    27 January

    Luật Doanh nghiệp năm 2020 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 với nhiều nội dung thay đổi đáng kể liên quan đến người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

    27 January

    Điều kiện kinh doanh bất động sản từ 01/01/2021 Luật Đầu tư 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) với nhiều điểm mới nổi bật, trong đó sửa đổi điều kiện kinh doanh bất động sản tại Luật Kinh doanh bất động sản 2014.
    Call now Nhắn tin ZaloChat Zalo Facebook